Lê Quý Đôn - Danh nhân văn hóa thế giới
1. THÂN THẾ CỦA DANH NHÂN VĂN HÓA LÊ QUÝ ĐÔN
Lê Quý Đôn (tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương), tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 02/8/1726 tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay là thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Sinh ra trong một gia đình khoa bảng có truyền thống yêu nước. Cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ - một học quan thanh liêm, cương trực; mẹ là bà Trương Thị Ích xuất thân trong một gia đình danh giá. Ông sớm bộc lộ tài năng xuất sắc với trí nhớ và trí tuệ vượt trội, từ thuở nhỏ đã được xem là một "thần đồng". Năm lên 5 tuổi, ông đã đọc được nhiều bài trong Kinh thi. 12 tuổi đã thông thạo kinh điển Nho học. Năm 17 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hương ở trường Sơn Nam đã đỗ giải nguyên và ông ở nhà dạy học, viết sách. Đến năm 26 tuổi đỗ đầu kỳ thi Hội và thi Đình. Ông đỗ đầu cả ba kỳ thi nên được gọi là Tam nguyên Bảng nhãn. Lê Quý Đôn là một trong những nhân vật kiệt xuất của lịch sử Việt Nam, không chỉ nổi bật về học vấn mà còn là biểu tượng của trí tuệ, lòng kiên trì và sự cống hiến.

Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-1784)
2. SỰ NGHIỆP CỦA DANH NHÂN VĂN HÓA LÊ QUÝ ĐÔN
Lê Quý Đôn là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử dân tộc, những cống hiến của ông về sự nghiệp chính trị và sự nghiệp trước tác là vô cùng to lớn. Ông là một tượng đài tri thức bách khoa hàng đầu của thế kỷ XVIII, một vị quan - nhà Nho thông minh, ham học hỏi và say mê nghiên cứu, đã để lại cho đời một di sản đồ sộ về tri thức, văn hóa và phương pháp học tập hiệu quả. Sự nghiệp của ông trải dài qua nhiều lĩnh vực như văn học, lịch sử, địa lý, thiên văn học, kinh tế và chính trị…
Sau khi đỗ Tam nguyên Bảng nhãn, Lê Quý Đôn bắt đầu sự nghiệp quan trường tại Viện Hàn lâm với chức vụ Hàn lâm viện Thị thư vào năm 1752. Ít lâu sau, ông được bổ nhiệm chức Hàn lâm Thừa chỉ sung Toản tu Quốc sử quán. Năm 1756 được cử giữ chức Liêm phóng sứ ở Sơn Nam. Sau khi đi liêm phóng về, Lê Quý Đôn được biệt phái sang phủ Chúa giữ chức Chưởng phiên binh và cử đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa sau đó thăng chức Thị giảng viện Hàn lâm, phụ trách hỗ trợ các học sĩ trong việc biên soạn sách vở và các văn kiện quan trọng. Năm 1760, Lê Quý Đôn được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Trong thời gian này, ông hoàn thành nhiệm vụ bang giao đồng thời thúc đẩy sự giao lưu học thuật, tiếp thu những tri thức khoa học và thiên văn tiến tiến từ nhà Thanh. Ông đã có các cuộc gặp gỡ và trao đổi tri thức với những học giả Triều Tiên, qua đó thể hiện tinh thần học hỏi và giao lưu quốc tế sâu sắc. Chuyến đi sứ này đã khẳng định vị thế của Lê Quý Đôn, ông không chỉ là một nhà chính trị mà còn là một cầu nối tri thức giữa hai quốc gia. Khi về nước, ông được bổ nhiệm chức Học sĩ của Bí thư các.
Năm 1764, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Đốc đồng trấn Kinh Bắc và chưa đầy một năm sau, ông chuyển sang làm Tham chính xứ Hải Dương. Sau đó lần lượt được bổ nhiệm những chức vụ cao hơn như: Hữu thị lang Bộ công (1769), quyền Đô ngự sử (1770), Nhập thị Bồi tụng (1773).
Năm 1775, Lê Quý Đôn được thăng chức Tả thị lang Bộ hộ rồi được cử vào Thuận Hóa giữ chức Hiệp trấn Tham tán quân cơ. Ở miền đất mới này, ông vừa lo sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính, thiết định luật lệ, vừa lo sản xuất, phát triển kinh tế và giáo dục ở địa phương. Đỉnh cao trên con đường làm quan của Lê Quý Đôn là chức Hành tham tụng được trao năm 1778. Ít lâu sau, ông sung chức Quốc sử quán Tổng tài rồi được cải bổ giữ chức Hiệp trấn xứ Nghệ An (1783). Sau đó, ông về triều để thăng chức Công bộ Thượng thư.
Lê Quý Đôn qua đời vào ngày 01/6/1784 tại quê mẹ ở làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Vua cho bãi triều ba ngày để tỏ lòng thương tiếc một bậc hiền tài. Bình sinh, Lê Quý Đôn là con người hành động, con người thực tiễn, giàu năng lực và đầy nhiệt huyết; luôn dốc tâm hành động vì dân, vì nước.
Lê Quý Đôn với sự nghiệp trước tác vĩ đại nhất của Việt Nam thời phong kiến. Các tác phẩm của ông không chỉ là nguồn tư liệu quý giá ghi chép lại lịch sử, văn hóa và triết học mà còn thể hiện tầm nhìn khoa học uyên bác của ông. Qua đó góp phần giáo dục các thế hệ sau, đóng vai trò như là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa Việt Nam và thế giới tạo nên một di sản trí tuệ vượt thời gian.
Về sáng tác văn học, với vai trò là một nhà Nho, Lê Quý Đôn đã đề cao giá trị nhân văn, luôn chủ động đề xuất các chính sách có lợi cho dân, luôn tràn đầy lòng yêu nước và trách nhiệm xã hội. Ông để lại cho đời tác phẩm lớn như “Quế Đường thi tập” và rất nhiều áng văn có giá trị, từ đó truyền tải triết lý sống "lấy đức làm gốc, lấy lòng nhân làm đầu" và khuyến khích người học theo đuổi tri thức không chỉ vì cá nhân mà còn vì cộng đồng. Tư tưởng nhân văn của ông trở thành di sản quý báu, truyền cảm hứng cho các thế hệ sau về tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm với xã hội .
Về sử học, các công trình như: “Phủ biên tạp lục”, “Kiến văn tiểu lục” và “Đại Việt thông sử”… không chỉ là bách khoa thư đồ sộ mà còn hệ thống hóa tri thức dân tộc, đặt nền tảng cho nhiều ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn của Việt Nam phát triển.
Trong “Phủ biên tạp lục” thể hiện tư tưởng nhân văn của Lê Quý Đôn khi ông quan tâm đến đời sống của người dân, từ điều kiện kinh tế đến phong tục và tập quán. Ông đã phản ánh những khó khăn và thách thức mà người dân ở các vùng đất mới phải đối mặt, đồng thời đưa ra những nhận định và đề xuất nhằm cải thiện đời sống của họ. Tác phẩm cho thấy tầm nhìn của Lê Quý Đôn về việc xây dựng một xã hội công bằng và phát triển, nơi mà các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy. “Phủ biên tạp lục” không chỉ có giá trị lịch sử và địa lý mà còn cung cấp những thông tin quan trọng về quá trình mở rộng và phát triển lãnh thổ của Việt Nam trong thế kỷ XVIII.
Tác phẩm “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn cho rằng nhà Nho chân chính không chỉ học hỏi trong sách vở mà còn phải có trách nhiệm cải thiện xã hội, xây dựng đất nước vững mạnh. Tinh thần trách nhiệm này được ông thể hiện qua nhiều hoạt động thực tiễn khi làm quan trong triều đình. Ông luôn cố gắng áp dụng tri thức vào các chính sách cải cách, đặc biệt là trong việc quản lý tài nguyên đất nước và phát triển kinh tế. Đây là một công trình văn hóa đồ sộ, là một tư liệu giáo dục quan trọng, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
“Đại Việt thông sử” là một trong những tác phẩm lịch sử quan trọng của Lê Quý Đôn, được biên soạn trong bối cảnh xã hội Việt Nam dưới triều Lê - Trịnh, với mục tiêu ghi lại một cách hệ thống và toàn diện về lịch sử dân tộc. Tác phẩm ghi lại các sự kiện quan trọng trong lịch sử nước nhà đồng thời đã cung cấp những nhận xét sâu sắc về chính trị, xã hội và văn hóa; giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về quá trình phát triển của đất nước. Ông là người đầu tiên ở nước ta dùng khái niệm “thông sử” và mạnh dạn cách tân trong phương pháp biên soạn.
Về kiến thức bách khoa, trong “Vân đài loại ngữ” Lê Quý Đôn đã tổng hợp và phân loại kiến thức từ các lĩnh vực như thiên văn, địa lý, y học và triết học; xây dựng một bách khoa thư đầu tiên cho Việt Nam. Ông là một trong những người đi đầu trong tư tưởng "thực học," nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành; phê phán lối học "tầm chương trích cú", đề cao tinh thần tự học và sáng tạo. Tác phẩm không chỉ là một trong những tư liệu phong phú mà còn truyền tải triết lý giáo dục sâu sắc. “Học giả nên có ba sự nhiều: đọc sách nhiều, nghị luận nhiều, trước thuật nhiều”. Lê Quý Đôn là người đã nêu quan điểm giáo dục hướng đến sự toàn diện: dạy kiến thức đi thi, dạy đạo làm người và tri thức cuộc sống về văn hóa khoa học, thẩm mỹ, thể chất, gia đình, xã hội và hôn nhân... Tư tưởng này đặt nền móng cho một nền giáo dục thực tiễn, gắn kết kiến thức và thực hành, khuyến khích tinh thần học tập suốt đời, phù hợp với nhu cầu đổi mới và phát triển trong thời đại ngày nay.
Trong kho tàng trước tác đồ sộ của Lê Quý Đôn, tư tưởng chính trị và triết học chủ yếu tập trung vào các công trình khảo cứu, chú giải và bình luận các sách kinh điển. Tác phẩm “Quần thư khảo biện” được viết dưới dạng các bài luận, trong đó tác giả tóm tắt nội dung và đưa ra những bình luận sâu sắc về ý nghĩa, giá trị của các tác phẩm cổ điển; không chỉ đóng góp vào việc bảo tồn và phát triển tri thức văn hóa dân tộc mà còn thể hiện tinh thần phê phán và nghiên cứu khoa học của Lê Quý Đôn.
Trong “Kinh thư diễn nghĩa”, Lê Quý Đôn đã phân tích các nguyên lý quản lý nhà nước, những giá trị đạo đức và xã hội, cách thức ứng dụng những nguyên lý này vào thực tiễn. Đây là một tác phẩm kinh điển, là một kiệt tác chính trị, phản ánh rõ tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn; trong đó chứa đựng những phân tích sâu sắc về nguyên lý quản lý, thể hiện tham vọng cải tổ chính quyền và chấn hưng đất nước của tác giả. Tác phẩm này đặt nền tảng cho việc phát triển các quan niệm về quản lý nhà nước và xã hội ở Việt Nam.
Hành trình làm quan của Lê Quý Đôn kéo dài 32 năm và sự nghiệp viết sách của ông trải qua hơn 40 năm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong cả hai lĩnh vực quan trường và học thuật. Các công trình của ông có tầm ảnh hưởng và vị thế quan trọng đối với nền văn hiến Đại Việt, góp phần làm sáng tỏ lịch sử, văn hóa và tri thức của thời đại.
3. SỰ GHI NHẬN VÀ VINH DANH ĐỐI VỚI NHÀ BÁC HỌC LÊ QUÝ ĐÔN
Để tưởng nhớ công ơn và những đóng góp của Lê Quý Đôn, Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và Nhân dân đã xây dựng các nhà thờ, khu tưởng niệm Lê Quý Đôn tại quê nhà, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Đây là quần thể di tích lưu giữ những tư liệu, hiện vật quý liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Lê Quý Đôn, bao gồm: Từ đường Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, lăng mộ cụ Lê Trọng Thứ (thân phụ của Lê Quý Đôn) và hồ Lê Quý. Di tích đã được xếp hạng di tích quốc gia và đầu tư tôn tạo; nhiều con đường, trường học trên cả nước được đặt tên nhà bác học Lê Quý Đôn.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tích hợp nội dung về Lê Quý Đôn vào nhiều môn học ở các cấp và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Việc lồng ghép này đã giúp học sinh tiếp cận tri thức về Lê Quý Đôn từ nhiều góc độ, đồng thời nâng cao kiến thức văn hóa và ý thức bảo tồn di sản dân tộc cho thế hệ trẻ.
Đặc biệt để ghi nhận, tôn vinh những công lao, đóng góp, cống hiến của Lê Quý Đôn cho nền văn hóa Việt Nam và thế giới, tại phiên họp Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) lần thứ 43 diễn ra vào ngày 31 tháng 10 năm 2025 tại Samarkand, Cộng hòa Uzbekistan đã thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.
Di sản của Lê Quý Đôn không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi quốc gia mà còn vươn xa tầm quốc tế. Tinh thần học tập suốt đời và phương pháp giáo dục thực tiễn đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển văn hóa, khoa học của Việt Nam.
Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (02/8/1726 - 02/8/2026) là dịp để chúng ta tôn vinh và tự hào những công lao đóng góp to lớn của Ông đối với nền học thuật, lịch sử và văn hóa Việt Nam; đồng thời là nền tảng giáo dục cho các thế hệ sau về tinh thần học hỏi, sự cống hiến và ý thức trách nhiệm đối với đất nước để góp phần xây dựng một xã hội học tập, sáng tạo và phát triển bền vững. Ông là tấm gương sáng ngời về hành động, nói đi đôi với làm, về năng lực tư duy sáng tạo bậc thầy cho muôn đời noi theo. Việc tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ góp phần làm giàu thêm nền tảng văn hóa, tri thức và sức mạnh con người Việt Nam mà còn khơi dậy động lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
Tài liệu tham khảo:
1. Lê Quý Đôn, Nhà thư viện - thư mục học Việt Nam thế kỷ XVIII - Nhiều tác giả, Nxb. Văn hóa Thông tin, năm 1995.
2. Lê Quý Đôn (1726 - 1784): Tiểu sử, sự nghiệp và giai thoại - Tác giả Nguyễn Thanh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2016.
3. Danh nhân Lê Quý Đôn: Cuộc đời và sự nghiệp - Nhiều tác giả, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình - Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, năm 2016.
4. Đề cương tuyên truyền ký niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 – 2026) của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương - Tỉnh ủy Hưng Yên.
Vũ Hải Phượng sưu tầm và biên soạn
