Giới thiệu bộ sách "Tài liệu địa chí Thái Bình"
Mảnh đất Thái Bình được hình thành từ hàng nghìn năm lịch sử, vào thời Bắc thuộc trước thế kỷ X thuộc hương Đa Cương (vùng đất từ sông Luộc ra đến biển) của quận Giao Chỉ. Đến nhà Hậu Lê, thời vua Lê Thánh Tông vùng đất Thái Bình thuộc trấn Sơn Nam. Đến cuối thời nhà Lê Trung Hưng sang đầu nhà Nguyễn, vùng này thuộc trấn Sơn Nam Hạ. Tên tỉnh Thái Bình xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX khi toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập ngày 21/3/1890. Chính vì vậy, các nguồn thư tịch văn khắc viết về vùng đất và con người Thái Bình khá phong phú và đồ sộ.
Nhằm phục vụ cho công tác tìm hiểu, nghiên cứu về tiềm năng, tiềm lực của tỉnh Thái Bình một cách toàn diện, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thái Bình phối hợp với Trung tâm Unessco Thông tin tư liệu và lịch sử văn hóa Việt Nam xuất bản “Tài liệu địa chí Thái Bình” từ năm 2006 – 2017, gồm 10 tập trong đó chủ yếu là tư liệu viết bằng chữ Hán, chữ Pháp trước năm 1945.
.jpg)
Tập I: Gồm 300 trang chia 2 phần:
Phần I: Văn khắc Hán Nôm giới thiệu bia chùa Phúc Minh, thôn Yên Để, tổng Cự Lâm, huyện Thư Trì; bia chùa Từ Ân, thôn Đồng Hải, tổng Động Hối, huyện Thanh Quan; chuông chùa Chiêu Quang, xã Đồng, thuộc Tinh Cương Hộ Hương, huyện Hưng Nhân; bia đền thờ họ Lưu làng Lưu Xá, tổng Hiệu Vũ, huyện Hưng Nhân; mộc Bài Đồng Đa Bối và các bia liên quan đến cụm di tích Sáo Đền, tổng An Lão, huyện Thư Trì.
Phần II: Thư tịch giới thiệu 03 sắc phong thời Lê Trung hưng của chi họ Nguyễn, xã Phúc Khê Tiền, huyện Thanh Quan là Nguyễn Khê, Nguyễn Tư, Nguyễn Châu và thư mục thần tích, thần sắc các tư liệu Hán Nôm của tỉnh Thái Bình đang được lưu giữ tại Viện Hán Nôm.
Ngoài ra tài liệu còn giới thiệu về “Thái Bình địa dư ký” của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, “Thái Bình phong vật chí” bản Hán văn của Phạm Văn Thụ và “Chú thích về tỉnh Thái Bình” do Nguyễn Đình Khang dịch từ bản Tiếng Pháp được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Tập 2: Gồm 344 trang chia 2 phần:
Phần I: Văn khắc Hán Nôm giới thiệu dịch thuật 14 bài văn khắc chữ Hán có niên đại sớm của tỉnh Thái Bình có kèm bản phiên âm dịch nghĩa như Nguyễn Kiều bi ký - Đại chính (1531), Tư phúc tự hồng chung - Quảng Hòa (1545), Phúc Giao tự bi - Bính Thìn (1556),…
Phần 2: Thư tịch giới thiệu bản chữ Hán có kèm phiên âm dịch nghĩa của 13 đạo sắc ban cấp cho xã Trung Liệt, tổng Thượng Liệt, huyện Đông Quan thờ công chúa Bảo Hoa (triều Trần); 8 đạo sắc ban cấp cho xã Xuân La, tổng Lập Bái, huyện Duyên Hà thờ Đức Ông Trang Nghị Đại vương, Đức Vua Bà Trần Quốc Đại vương, Đức Ông Thiên Quan Đại vương và thần tích về Đức Ông Trang Nghị Đại vương; văn bản tục lệ các xã: La Vân, Ngọc Quế, Bồ Trang tổng Quỳnh Côi, Ngoại Lãng tổng Vô Ngại, Thanh bản tổng Cự Lâm huyện Thư Trì; Động Trung tổng Xuân Vũ huyện Trực Định và thư mục văn bản tục lệ các làng xã huyện Duyên Hà, Đông Quan, Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Thanh Quan, Thần Khê, Thư Trì và Trực Định. Về gia phả giới thiệu thế phả dòng họ Trần Hữu, xã Ngự Thiên, huyện Hưng Nhân; giới thiệu bản dịch cuốn “Tiên Hưng phủ chí” của Phạm Nguyễn Hợp từ nguyên bản Hán Văn của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Tập 3: Gồm 292 trang có nội dung: Văn bia đình Miễu, xã Đông Quang, huyện Đông Quan, phủ Thái Ninh; văn bia đình Cư nhân, xã Đông Địa Linh, tổng Địa Linh, huyện Phụ Dực; văn bia làng Tiểu Hoàng thuộc tổng Đại Hoàng; văn bia đình làng Văn Hải, xã Đông Phong, huyện Tiền Hải ; 9 đạo sắc phong xã Tu Trình, huyện Thụy Anh; thần tích thôn Côn Sơn, xã Tảo Sơn và xã Thọ Khê, tổng Quan Bế, huyện Hưng Nhân; tục lệ tổng Phúc Khê, huyện Thanh Quan, phủ Thái Ninh; tục lệ tổng Phú Khê, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng; gia phả Bùi Sĩ Tiêm và bản dịch “Địa dư huyện Quỳnh Côi” của Ngô Vi Liễn.
Tập 4: Gồm 302 trang chia thành 2 phần:
Phần I: Văn khắc Hán Nôm giới thiệu văn bia đình Tổ xã Thư Điền, tổng An Bồi, huyện Trực Định; văn bia xã Đức Cơ, huyện Trực Định và một số tiêu bản khắc gỗ chữ Hán ở từ đường Doãn Khuê, xã Ngoại Lãng, tổng Vô Ngại, huyện Thư Trì; các sắc phong chức tước cho quan Bùi Thọ Chiếu, xã Phù Lưu, tổng Đồng Vị, huyện Đông Quan; Doãn Uẩn làng Ngoại Lãng tổng Vô Ngại huyện Thư Trì và sắc phong thần cho xã Thư Điền, xã Công Bồi, tổng An Bồi, phủ Kiến Xương; xã Nha Xuyên, tổng Phúc Khê, phủ Thái Ninh; thần tích xã Thượng Phán, tổng Đông Trực, huyện Quỳnh Côi; tục lệ các xã tổng Đông Hồ, huyện Đông Quan; gia phả họ Trần Trung Liệt tổng Thượng Liệt huyện Đông Quan.
Phần II: Địa chí giới thiệu cuốn “Tỉnh Thái Bình” của Dương Thiệu Tường do Nguyễn Đình Khang dịch theo bản tiếng Pháp tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Tập 5: Gồm 300 trang giới thiệu bài ngự chế bia ký về Thái tổ Họ Bùi của vua Thái tổ triều Lý, bài văn sách thi đình của Đình nguyên Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích, bản kết ước của hai xã Trà Lý, tổng Đại Hoàng và xã Thần Nhuệ tông Thần Huống, huyện Thanh Quan; bài văn tế trong dịp san lấp cửa Lân, tục lệ xã Thái Đường và Phú Đường, tổng Đặng Xá, huyện Hưng Nhân; thần tích xã Ngọc Quế, tổng Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Côi; thần sắc thôn Hà Nguyên, xã Phúc Hải, tổng Tống Xuyên, huyện Hưng Nhân; sắc phong chức tước cho các vị họ Tạ xã Diêm Điềm, huyện Chân Định; cho gia đình Doãn Uẩn; gia phả họ Đào xã Năng Tĩnh, tổng Tân Cơ, huyện Tiền Hải; họ Tạ xã Tây Giang tổng An Bồi huyện Trực Định; thế đất Thái Bình trong mắt các nhà phong thủy Trung Quốc và cuốn “Đồng Khánh địa dư chí” sách do quan chức các tỉnh biên soạn theo sắc chỉ của vua Đồng Khánh. Trong phần này trích các phủ huyện của 2 tỉnh Nam Định và Hưng Yên do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Viễn đông bác cổ Pháp tại Hà Nội dịch, xuất bản.
Tập 6: Gồm 300 trang chia làm 2 phần.
Phần I: Văn khắc giới thiệu văn bia tại từ đường họ Phạm, thôn Bắc Trạch, tổng Cao Mại, phủ Kiến Xương; bia nghĩa trang Tiên Tiến, xã Nham Lang, tổng Hiệu Vũ, huyện Hưng Nhân; bia đình Hà Lý, tổng Hà Lý, huyện Duyên Hà; bia cầu quán xã Đan Hội, tổng Thượng Bái, huyện Duyên Hà; bia chùa xuân Trạch, tổng Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Côi Phụ; bia Miếu, linh vị khắc làng An Hiệp, tổng Đào Xá, huyện Phục Dực.
Phần II: Thư tịch giới thiệu thần phả xã Tô Hải tổng Tô Xuyên, huyện Phục Dực, đình xã Thọ Cách, tổng An Bái, huyện Thụy Anh; thần sắc đình Phú Ốc, tổng Tống Xuyên, huyện Hưng Nhân; thần sắc xã Lang Phố, tổng Phúc Khê, phủ Thái Ninh; bản khai thần tích xã Nha Xuyên, tổng Phúc Khê, phủ Thái Ninh; tục lệ thôn Quả, Hội, Phú xã Thụ Điền, tổng Đông Động, phủ Thái Ninh; hương ước xã Phúc Khê Tiền, tổng Phúc Khê, phủ Thái Ninh; gia phả họ Phạm làng Phương Trạch, địa chí 3 xã Quân Bác, Bác Trạch, Phương Trạch tổng Cao Mại, phủ Kiến Xương; nội dung 6 tấm lụa của vua Minh Mạng ban tặng mẹ Doãn Uẩn và tài liệu của cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích.
Tập 7: Gồm 300 trang chia làm 2 phần
Phần I: Văn khắc Hán Nôm giới thiệu Bia văn chỉ thôn Dương Châu Trại, xã Dương Liễu, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương; bia Thành hoàng ở thôn Lương Đàm, xã Quan Triều, huyện Thụy Anh; bia chùa Sùng Khánh, huyện Tây Quan, phủ Thái Bình.
Phần II: Thư tịch giới thiệu tục lệ thôn Quán xã Hạ Bái, tổng Thượng Bái, huyện Diên Hà; tục lệ 3 thôn Bến - Trung - Bài xã Thụ Điền, tổng Đông Động, huyện Đông Quan, phủ Thái Ninh; hương ước làng Vị Dương, huyện Đông Quan, phủ Thái Ninh; văn tế Thành hoàng và Tiên công làng Thanh Khê, tổng An Bồi, phủ Kiến Xương; sắc phong chức cho Bùi Văn Lệnh và sắc phòng thần tại từ đường họ Bùi Quang, đền Đông Hồ, xã Đông Hồ, tổng Đông Hồ, huyện Đông Quan; sắc phong thần thôn Tăng , tổng Cao Mỗ; thôn Cốc, xã Cổ Cốc tổng Cổ Cốc phủ Tiên Hưng; thần tích xã Khả Lang, xã Hà Lý, tổng Hà Lý; xã Đình Ngũ, tổng Canh Nông, huyện Duyên Hà; thần tích thôn Ngói làng Thổ Cối, tổng Cao Mỗ phủ Tiên Hưng; thần tích miếu thờ thôn Sơn Đồng, tổng Sơn Đồng, huyện Quỳnh Côi; Nam Châu đồng phả và bốn bài tựa của 4 cuốn gia phả họ Doãn.
Tập 8: Gồm 300 trang chia thành 2 phần
Phần I: Văn khắc Hán Nôm giới thiệu di sản Hán Nôm chùa Cần Tu, thôn Cầu, tổng Cát Đàm, huyện Thanh Quan, phủ Thái Ninh.
Phần II: Thư tịch giới thiệu thần tích miếu Chàng, thôn Phương Đài, tổng Cát Hộ, huyện Đông Quan; thần tích thôn An Dương, xã An Bồi, huyện Chân Định; thần tích miếu Đông, thôn Vị Dương, tổng Vị Dương, huyện Thanh Quan; thần tích tục lệ thôn Hương Xá, xã Phúc Khánh, tổng Tống Xuyên, huyện Hưng Nhân; tục lệ thôn Xuân Đài, xã Đông Động, tổng Đông Động, huyện Thanh Quan; khoán ước của hộ Thiền chùa Bảo Sơn, tổng Bình Cách, huyện Đông Quan; gia phả họ Bùi, thôn Đồng Thanh, xã Tri Lai, tổng Tri Lai, huyện Thư Trì và Thế đất Thái Bình dưới mắt các nhà phong thủy Trung Quốc thế kỷ IX và XV.
Tập 9,10: Giới thiệu bản địa bạ cổ các tổng An Xá, Duyên Hà, Hà Lý, Thương Bái, Lập Bái, Canh Nông, Vị Sĩ, Thượng Hộ thuộc huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, xứ Sơn Nam Hạ trong kho địa bạ của Triều Nguyễn thế kỷ XIX. Bản dịch từ nguyên bản chữ Hán tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước quản lý.
Bộ sách “Tài liệu địa chí Thái Bình” là công trình nghiên cứu có giá trị lịch sử văn hóa. Việc xuất bản tài liệu địa chí bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp đòi hỏi công tác dịch thuật, chú thích công phu và khoa học. Vì vậy bộ sách là kho tư liệu quý giúp bạn đọc tìm hiểu sâu hơn về vùng đất, con người, lịch sử và văn hóa địa phương.
Thư viện tỉnh Hưng Yên xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc./.
Nguyễn Thị Minh
